Thông Cống Nghẹt Quận 2

Tại khu vực Quận 2 Chúng tôi chuyên => Thông cống nghẹt quận 2, phục vụ Quý khách hàng nhanh chóng. Dịch vụ uy tín - chuyên nghiệp, giá thành hợp lý, chọn gói, thoả thuận ngay ban đầu, không phát sinh chi phí. Quý khách có nhu cầu xin liên hệ cho chúng tôi theo số điện thoại : 0908 820 488 A Thành - 0903 116 846 A Quỳnh - Phục vụ tận tình chu đáo.

Thông Cống Nghẹt Quận 2

Thông Cống Nghẹt Phường Thảo Điền Quận 2

Chúng tôi chuyên thông cống nghẹt quận 2 tại các tuyến đường, phường thảo điền gồm đường Quốc Hưng, đường Nguyễn Văn Hưởng, thông bồn cầu đường Nguyễn Ư Dĩ, hút hầm cầu đường xa lộ hà nội, thông bồn rửa chén đường Thảo Điền, nạo vét hố ga đường Trần Não, đường Lương Định Của, hút bể phốt đường Nguyễn Duy Trinh, phường bình trưng đông quận 2 tphcm.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 11 quận của đô thành Sài Gòn cũ và toàn tỉnh Gia Định. Địa bàn Thảo Điền lúc này thuộc xã An Phú, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 03/CP về chia tách và thành lập các quận mới. Để cụ thể hóa Nghị định 03/CP cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương, ngày 18 tháng 3 năm 1997, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1195/QĐ-UB về việc thành lập quận 2 được tách ra từ một phần huyện Thủ Đức. Địa bàn quận 2 lúc này gồm 11 phường: Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, An Phú, Thảo Điền, Bình Khánh, Bình An, An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông. Từ đây, Phường Thảo Điền chính thức được thành lập trên cơ sở tách một phần diện tích và nhân khẩu từ xã An Phú trực thuộc Quận 2 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Điều kiện tự nhiên

Phường Thảo Điền nằm ở phía Bắc của quận 2 với diện tích 375,87 ha. Được hình thành trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của xã An Phú cũ, phía Tây và phía Bắc giáp với quận Bình Thạnh qua sông Sài Gòn, phía Nam giáp phường Bình An và An Phú, phía Đông giáp phường An Phú.

Về khí hậu, mang đặc trưng của khí hậu vùng Nam Bộ nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ ở Thảo Điền thuộc loại cao. Đỉnh mùa nắng nóng là 400C và thấp nhất vào khoảng 160C vào mùa mưa mát. Trung bình nhiệt độ khoảng 270C.

Địa hình và thổ nhưỡng đặc trưng của phường là bưng thấp ven sông, được bồi đắp bởi phù sa mới nên chủ yếu là đất đen, nền đất yếu. Độ cao so với mực nước biển từ 1 đến 3 mét nên thường bị ngập nước khi thủy triều lên.

Với vị trí địa lý thuận lợi là một Phường nằm ở cửa ngõ phía Đông của thành phố, tiếp giáp quận 1, gần trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh; có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy được đầu tư xây dựng, mở rộng nhiều nên việc đi lại ngày càng thuận lợi hơn. Thảo Điền hội tụ đầy đủ những điều kiện để phát triển thành một khu đô thị mới với những tiến bộ và hiện đại phù hợp với định hướng của Phường trong tương lai.

Xã hội

Tổng dân số của phường năm 1997 có 2.000 hộ với 8.896 nhân khẩu, đến tháng 12 năm 2010 tăng lên 6.476 hộ với 19.127 nhân khẩu, trong đó số nhân khẩu thường trú là 8.551, còn lại 10.576 người là nhân dân các vùng khác đến sinh sống và làm việc.

Về tín ngưỡng

Tôn giáo, bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên, còn có các tôn giáo khác như Phật giáo (chùa Kỳ Quang), Thiên chúa giáo, đạo Cao Đài…nhìn chung hoạt động và sinh hoạt của các tôn giáo này diễn ra bình thường, đúng nghi lễ thuần túy về tôn giáo. Ngoài ra trên địa bàn phường còn có cơ sở tín ngưỡng dân gian khác như Đình thần Thảo Điền. Tuy theo nhiều tôn giáo khác nhau nhưng đồng bào có đạo luôn giữ được tình đoàn kết, thương yêu nhau trong cộng đồng tình làng, nghĩa xóm với tâm niệm « tốt đời đẹp đạo » và «đạo pháo trong lòng dân tộc ». Các tôn giáo cũng có những đóng góp nhất định trong quá trình đấu tranh cách mạng, gìn giữ hòa bình, xây dựng mối đoàn kết giữa các tôn giáo để cùng xây dựng và phát triển quê hương Thảo Điền.

Về dân tộc, đa số là dân tộc Kinh, tiếp đến là người Khơme, người Nùng, người Hoa, người Tày, người Chăm…tập trung chủ yếu là sinh viên trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh và công nhân ở các nhà trọ. Chính sự cư ngụ phong phú về dân tộc đã hình thành nên một Thảo Điền với sự đa dạng về văn hóa lối sống, tôn giáo, củng cố thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc để xây dựng nên một nét đẹp văn hóa truyền thống nơi đây.

Về văn hóa

Xã hội, từ năm 1997 sau khi thành lập phường tách ra từ xã An Phú, cơ sở giáo dục còn nhiều khó khăn thiếu thốn, trình độ dân trí còn thấp, công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân gặp nhiều khó khăn, thử thách. Toàn Phường chỉ có 1 Trường cấp 1 với 10 phòng học và 1 trường dân lập Minh Trí dạy từ lớp 1 đến lớp 6. Đến 2013, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học từng bước được bổ sung nâng cấp. Có nhiều trường học các cấp hoạt động hiệu quả trên địa bàn phường: Trường Tiểu học Huỳnh Văn Ngỡi, các cơ sở mầm non tư thục, trường quốc tế, trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Hàng hải. Chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng. Tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 hàng năm đạt 100%, tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, trung học cơ sở đạt 97%, trung học phổ thông đạt 85%, đã thực hiện tốt công tác xóa mù chữ đạt 99%.

Từ năm 1997, các khu phố, ấp của phường Thảo Điền đã tích cực thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đến năm 2007 toàn Phường có 6/6 khu phố đạt tiêu chuẩn khu phố văn hóa (riêng Khu phố 3 là khu phố điển hình đã có 14 năm liên tục đạt danh hiệu khu phố văn hóa), 56 tổ dân phố đạt tiêu chuẩn xuất sắc, 1.554 trên tổng số 1.596 hộ gia đình văn hóa; tăng lên 1.926 trên tổng số 1.996 hộ gia đình văn hóa năm 2013. Tháng 4 năm 2012, phường được vinh dự đón nhận danh hiệu Phường văn hóa giai đoạn 2008 – 2010. Năm 2013, Phường được Quận 2 công nhận đạt chuẩn Phường văn minh đô thị. Các hoạt động tuyên truyền và giao lưu văn hóa văn nghệ được tổ chức thường xuyên góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân.

Về kinh tế, trước đây nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đến khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX, một thời gian dài thực hiện công cuộc chuyển mình theo hướng đô thị hóa đã dần thay đổi bộ mặt kinh tế của phường. Sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và hiện nay không còn tồn tại trên địa bàn phường. Cơ cấu kinh tế của phường dần chuyển dịch theo hướng phù hợp với quá trình đô thị hóa. Ngày nay, kinh tế của phường chủ yếu tập trung vào các ngành nghề thương mại dịch vụ và hộ kinh doanh cá thể. Các ngành dịch vụ trên địa bàn như tài chính, ngân hàng, vận tại, kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn, nhà cho thuê…đều tăng nhanh tỷ trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng cao. Nhiều công trình đã được xây dựng và đưa vào sử dụng: trường học, đường, điện, nước, Trung tâm y tế, Bệnh viện, trụ sở các cơ quan nội chính và Ủy ban nhân dân Phường… Phường luôn tận dụng các tiềm lực hiện có và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các thành phần kinh tế đến đầu tư, kinh doanh góp phần xây dựng và phát triển phường.

Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế, cán bộ y tế ngày càng được chú ý đầu tư về số lượng và chất lượng. Các chương trình khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, diện chính sách, tiêm phòng cho trẻ em được duy trì thường xuyên. Công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo, đời sống người dân được chăm sóc chu đáo.

Thảo Điền hiện nay đã được khai hoang và có nhiều công trình xây dựng, chủ yếu là công trình nhà ở chung cư do nhu cầu nơi ở đang tăng cao hiện nay ở TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, với vị thế mát mẻ, có phần biệt lập được bao bọc xung quanh bởi sông Sài Gòn, Thảo Điền hiện đang là nơi cư ngụ lý tưởng của đại đa số người dân, chủ yếu là người nước ngoài; cùng với các trường Quốc tế (BIS, AIS,...) cũng như các hàng quán, cửa hàng quần áo, spa, resorts và khách sạn trải dài từ phân khúc bình dân tới cao cấp. Nhưng kể đến nhiều nhất vẫn là các chung cư hiện đại đã và được đang xây dựng cho nhu cầu nhà ở đang ngày gia tăng khi TP. Hồ Chí Minh thu hút nhiều người dân ở nhiều vùng khác nhau tới sinh sống và làm việc.

Thông Cống Nghẹt Quận 2

Thông Cống Nghẹt Phường An Phú Quận 2

Tại phường an phú quận 2 cũng như các phường bình trương đông, bình trương tây, an phú, an khánh, trần não, thảo điền, cát lái, thủ thiêm, chúng tôi Thông cống nghẹt, uy tín - chuyên nghiệp, phục vụ tận tình chu đáo, Quý khách có nhu cầu, hút hầm cầu, bể phốt, thông bồn cầu, cống nghẹt, nạo vét hố ga. Hãy liên hệ cho chúng tôi, để xử lý kịp thời, ĐT: 0908 820 488 - 0903 116 846.

Đối với các định nghĩa khác, xem Quận 2 (định hướng).

Quận 2

Quận

Hầm Thủ Thiêm

Hành chính

VùngĐông Nam Bộ

Thành phốThành phố Hồ Chí Minh

Trụ sở UBND168 Trương Văn Bang, Phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Phân chia hành chínhQuận có 11 phường.

Thành lập1 tháng 4 năm 1997[1]

Đại biểu quốc hội

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Phan Nguyễn Như Khuê

Trịnh Ngọc Thúy

Chính quyền

Chủ tịch UBNDNguyễn Phước Hưng

Chủ tịch HĐNDBùi Văn Phúc

Bí thư Quận ủyNguyễn Hoài Nam

Địa lý

Tọa độ: 10°46′51″B 106°45′25″ĐTọa độ: 10°46′51″B 106°45′25″Đ

Diện tích50 km² [2]

[hiện]Vị trí Quận 2 trên bản đồ Việt Nam

Dân số (2019)

Tổng cộng170.080 người[2]

Thành thị100%

Mật độ3.402 người/km²

Dân tộcKinh...

Khác

Mã hành chính769[3]

Biển số xe59-B1

Quận 2 hay Quận Nhì là một quận nằm ở phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh.

Quận 2 là quận mới được đô thị hóa, nơi có Khu đô thị mới Thủ Thiêm trong tương lai gần, là trung tâm tài chính thương mại mới của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 2 là quận thưa dân nhất thành phố.

Mục lục

1Vị trí địa lý

2Lịch sử2.1Quận 2 cũ, trước năm 1976

2.1.1Thời Pháp thuộc

2.2Thời Việt Nam Cộng hòa

2.3Giai đoạn 1975-1976

2.4Từ năm 1997 đến nay

3Hành chính

4Đường phố

5Hạ tầng

6Chú thích

7Tham khảo

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 2 là 1 trong 5 quận nằm ở phía Đông Bắc Thành phố Hồ Chí Minh:

Phía Bắc giáp quận Thủ Đức và quận Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn và sông Rạch Chiếc)

Phía Nam giáp sông Sài Gòn, ngăn cách với quận 7, sông Nhà Bè, ngăn cách với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Phía Tây theo thứ tự từ Bắc xuống Nam lần lượt ngăn cách với quận Bình Thạnh, quận 1 và quận 4 bởi sông Sài Gòn.

Phía Đông giáp quận 9.

Lịch sử

Địa bàn quận 2 từ năm 1997 đến nay khác hẳn với quận 2 cũ trước năm 1976. Trong giai đoạn 1967-1976, một phần nhỏ địa bàn quận 2 ngày nay chính là quận 9 (quận Chín) cũ của Đô thành Sài Gòn và sau đó là Thành phố Sài Gòn - Gia Định. Quận 9 khi đó gồm 02 phường: An Khánh và Thủ Thiêm (nay là các phường An Khánh, Bình An, Bình Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông).

Tháp thông gió hầm Thủ Thiêm phía quận 2

Quận 2 cũ, trước năm 1976

Thời Pháp thuộc

Tháng 9 năm 1889, thành phố Sài Gòn được chia thành hai quận cảnh sát (arrondissement policier): Quận 1 và Quận 2, đứng đầu mỗi quận cảnh sát là vị Quận trưởng cảnh sát (Commissaire).

Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gònvà thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu (một số tài liệu gọi là "Địa phương") Sài Gòn - Chợ Lớn (Région Saigon - Cholon ou Région de Saigon - Cholon). Quận 2 thuộc Khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ngày 30 tháng 6 năm 1951, Thủ tướng chính quyền Quốc gia Việt Nam ký sắc lệnh số 311-cab/SG đổi tên Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Lúc này, quận 2 thuộc Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn.

Thời Việt Nam Cộng hòa

Theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Khi đó, quận 2 lại thuộc Đô thành Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 3 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 110-NV về việc phân chia sáu quận đang có thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám (trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính). Lúc này, quận 2 (quận Nhì) trùng với địa giới quận Nhì cũ; có 04 phường: Chợ Bến Thành, Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho, Nhà thờ Huyện Sĩ.

Dinh Độc Lập, công trình tiêu biểu của Sài Gòn trước 1975

Năm 1962, quận Nhì lập thêm 03 phường: Bùi Viện, Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cư Trinh. Như thế lúc này quận có 07 phường.

Năm 1972, đổi tên phường Chợ Bến Thành của quận Nhì thành phường Bến Thành.

Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận 2 (quận Nhì) gồm 07 phường: Bến Thành, Bùi Viện, Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho, Nhà thờ Huyện Sĩ, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cư Trinh.

Giai đoạn 1975-1976

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Lúc này, quận 2 (quận Nhì) thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định cho đến tháng 5 năm 1976. Đồng thời, có những điều chỉnh do phường hiện hữu có diện tích quá nhỏ hoặc tương đối ít dân cư như, trong đó quận Nhì sáp nhập phường Bến Thành vào phường Nhà thờ Huyện Sĩ, phường mới mang tên phường Huyện Sĩ. Như thế lúc này quận Nhì còn 06 phường.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, quận Nhất và quận Nhì cũ hợp nhất lại thành quận 1 cho đến ngày nay. Như vậy quận 2 cũ bị giải thể vào năm 1976.

Từ năm 1997 đến nay

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 03-CP về việc thành lập các quận, phường mới thuộc thành phố Hồ Chí Minh[1]. Nội dung về việc thành lập Quận 2 và các phường thuộc Quận 2 như sau:

1.Thành lập Quận 2 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi thuộc huyện Thủ Đức.

Quận 2 có 5.020 ha diện tích tự nhiên và 86.027 nhân khẩu.

2.Thành lập các phường thuộc Quận 2 như sau:

a) Thành lập phường An Phú trên cơ sở 1.042 ha diện tích tự nhiên và 6.724 nhân khẩu của xã An Phú.

Phường An Phú có 1.042 ha diện tích tự nhiên và 6.724 nhân khẩu.

b) Thanh lập phường Thảo Điền trên cơ sở 375 ha diện tích tự nhiên và 6.714 nhân khẩu của xã An Phú.

Phường Thảo Điền có 375 ha diện tích tự nhiên và 6.714 nhân khẩu.

c) Thành lập phường An Khánh trên cơ sở 169 ha diện tích tự nhiên và 12.865 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường An Khánh có 169 ha diện tích tự nhiên và 12.865 nhân khẩu.

d) Thành lập phường Bình Khánh trên cơ sở 226 ha diện tích tự nhiên và 6.580 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường Bình Khánh có 226 ha diện tích tự nhiên và 6.580 nhân khẩu.

e) Thành lập phường Bình An trên cơ sở 169 ha diện tích tự nhiên và 6.774 nhân khẩu của xã An Khánh.

Phường Bình An có 169 ha diện tích tự nhiên và 6.774 nhân khẩu.

f) Thành lập phường Thủ Thiêm trên cơ sở 135 ha diện tích tự nhiên và 9.325 nhân khẩu của xã Thủ Thiêm.

Phường Thủ Thiêm có 135 ha diện tích tự nhiên và 9.325 nhân khẩu.

g) Thành lập phường An Lợi Đông trên cơ sở 385 ha diện tích tự nhiên và 5.068 nhân khẩu của xã Thủ Thiêm.

Phường An Lợi Đông có 385 ha diện tích tự nhiên và 5.068 nhân khẩu.

h) Thành lập phường Bình Trưng Tây trên cơ sở 222 ha diện tích tự nhiên và 7.832 nhân khẩu của xã Bình Trưng.

Phường Bình Trưng Tây có 222 ha diện tích tự nhiên và 7.832 nhân khẩu.

i) Thành lập phường Bình Trưng Đông trên cơ sở 345 ha diện tích tự nhiên và 10.496 nhân khẩu của xã Bình Trưng.

Phường Bình Trưng Đông có 345 ha diện tích tự nhiên và 10.496 nhân khẩu.

k) Thành lập phường Cát Lái trên cơ sở 669 ha diện tích tự nhiên và 6.567 nhân khẩu của xã Thạnh Mỹ Lợi.

Phường Cát Lái có 669 ha diện tích tự nhiên và 6.567 nhân khẩu.

l) Thành lập phường Thạnh Mỹ Lợi trên cơ sở 1.283 ha diện tích tự nhiên và 7.091 nhân khẩu của xã Thạnh Mỹ Lợi.

Phường Thạnh Mỹ Lợi có 1.283 ha diện tích tự nhiên và 7.091 nhân khẩu.

Hành chính

Vị trí quận 2 trong nội thành Tp Hồ Chí Minh

Quận 2 được chia thành 11 phường[4]: An Khánh, An Lợi Đông, An Phú, Bình An, Bình Khánh, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Thảo Điền, Thủ Thiêm.

Trong đó, phường Thạnh Mỹ Lợi là trung tâm của quận, nơi đặt trụ sở Uỷ ban nhân dân Quận 2, Hội đồng nhân dân Quận 2, Chi cục thuế Quận 2. Còn trung tâm tài chính, thương mại được quy hoạch tại phường Thủ Thiêm.

HÚT HẦM CẦU - HÚT BỂ PHỐT - THÔNG BỒN CẦU - THÔNG CỐNG NGHẸT - LẮP ĐẶT ĐƯỜNG ỐNG CỐNG - NẠO VÉT HỐ GA.

Dịch vụ vệ sinh Nam Thành

ĐT: 0908 820 488 A THÀNH

ĐT: 0903 116 846  A QUỲNH

Rất hân hạnh được phục vụ quý khách hàng

Số lần xem:274

Thông Cống Nghẹt Quận 2

Chia sẻ:
Bình luận của bạn
*
*
 Captcha

Thống kê truy cập
  • Trực tuyến:
    2
  • Hôm nay:
    790
  • Tuần này:
    5458
  • Tuần trước:
    15127
  • Tháng trước:
    19216
  • Tất cả:
    855057
Hỗ trợ trực tuyến
Mobile
Phòng Tư Vấn

CTy DV Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị Nam Thành

ĐT: 0938 25 25 26 - 0908 820 488

website: https://thongcongnghetquan.com

Địa chỉ liên hệ

© Copyright 2018 https://thongcongnghetquan.com